Thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc, trong những năm qua, sự nghiệp GD-ĐT vùng DTTS, MN đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của của Đảng, Nhà nước thông qua các chủ trương, chính sách hỗ trợ, đầu tư phát triển.

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo vùng DTTS, MN đã có những chuyển biến đáng kể, qua đó đã khuyến khích công tác dạy và học, tạo sự bình đẳng trong giáo dục, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đánh giá hiện nay hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi được đầu tư xây dựng cơ bản đáp ứng nhu cầu dạy, học. Tỷ lệ huy động học sinh đến trường tăng cao, tỷ lệ bỏ học giữa chừng giảm mạnh. Ngành giáo dục đã triển khai việc giảng dạy tiếng dân tộc thiểu số trong nhà trường tại 22 tỉnh thành với 6 thứ tiếng, gồm: Mông, Chăm, Khmer, Gia rai, Ba na, Ê đê. Công tác xóa mù chữ, tăng cường tiếng Việt cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số được chú trọng. Chất lượng giáo dục đại trà được cải thiện, nâng cao rõ rệt. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú đã khẳng định được vị thế, hiệu quả bằng việc đào tạo ra nhiều học sinh có trình độ, năng lực tốt.

Tuy nhiên, so với mặt bằng chung cả nước, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền, giữa các dân tộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao. Công tác phát triển giáo dục ở những vùng dân tộc thiểu số và miền núi vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, tỷ lệ mù chữ, tái mù chữ trong đồng bào còn khá cao. Vì vậy, để mọi người dân có trình độ học vấn cao hơn đòi hỏi phải có sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước bằng việc mở trường, lớp, đào tạo đội ngũ giáo viên cũng như thực hiện tốt chính sách cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ phát biểu tại Hội thảo
 

Trên cơ sở các ý kiến tại Hội thảo, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ nêu rõ, toàn ngành giáo dục sẽ tập trung thực hiện các nhóm giải pháp cụ thể để các chính sách thực sự phát huy hiệu quả. Trong đó, nhóm giải pháp thứ nhất cần tập trung là các chính sách chung đối với giáo dục, đào tạo dân tộc và miền núi, nhất là cần thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông kết hợp với chương trình đặc thù. Nhóm giải pháp thứ hai là duy trì và thực hiện có hiệu quả mô hình giáo dục trường bán trú và nội trú, trong đó chú trọng củng cố điều kiện tốt hơn về sinh hoạt, chế độ và phương thức giáo dục. Nhóm giải pháp thứ ba cần quan tâm là duy trì chế độ cử tuyển nhưng phải trên cơ sở điều chỉnh lại tiêu chí tuyển chọn, phương thức đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực sau đào tạọ.

Mai Thi – Tuấn Bình