Theo đó, các đại biểu tiếp tục được nghe các báo cáo: thẩm tra về dự án Luật Cảnh sát cơ động; Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; thẩm tra về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

 Các đại biểu tham dự tại hội trường Diên Hồng
 

Thảo luận tại tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Cảnh sát cơ động các đại biểu thống nhất sự cần thiết phải ban hành. Tuy nhiên, cơ quan soạn thảo cần phải nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với các luật hiện hành, góp phần tăng tuổi thọ của luật.

 Đại biểu Quốc hội tỉnh tham dự tại điểm cầu Đắk Nông
 

Cụ thể, đối với Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ các đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát lại toàn bộ Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019 đang còn tồn tại nhiều nội dung áp dụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Trên cơ sở đó, sửa đổi, bổ sung áp dụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để đồng bộ hóa, thống nhất trong ban hành, thực hiện pháp luật hiện hành. Đơn cử, theo quy định tại Điều 115 Bộ Luật dân sự năm 2015 Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Do đó, tại Khoản 5, sửa đổi, bổ sung Điều 20 quyền tài sản, cần nghiên cứu làm rõ hơn giá trị bằng tiền trong các quy định về quyền tài sản.

Đại biểu Trần Thị Thu Hằng góp ý dự thảo một số luật
 

Khoản 1 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định Nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền và nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 79 của Bộ luật Tố tụng dân sự và theo quy định tại Điều này.” Tuy nhiên, đối chiếu với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì cần sửa đổi, bổ sung là “Nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền và nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự và theo quy định tại Điều này.” Lý do: Điều 79 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về “Người giám định” còn Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về “Nghĩa vụ chứng minh” nên không thể viện dẫn theo Điều 79 mà phải viện dẫn theo Điều 91…

Tương tự thảo luận, góp ý Luật Cảnh sát cơ động các đại biểu cho rằng dự thảo luật chưa xác định rõ phạm vi, không gian hoạt động của Cảnh sát cơ động dẫn đến chồng chéo với chức năng, nhiệm vụ của các lực lượng khác đã được pháp luật hiện hành quy định. Việc không xác định rõ phạm vi, không gian, lãnh thổ hoạt động sẽ mâu thuẫn với quy định của Luật Quốc phòng, Luật Biên phòng Việt Nam, Luật Cảnh sát biển và không đồng bộ với quy định tại khoản 5 Điều 16 Luật Công an Nhân dân. Quy định Cảnh sát Cơ động là lực lượng vũ trang chuyên trách đang mâu thuẫn với Luật An ninh quốc gia năm 2004, Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018, Luật Biên phòng Việt Nam năm 2020. Tại Điều 4 dự thảo Luật đưa ra 5 nguyên tắc hoạt động của Cảnh sát cơ động, nhưng khi đối chiếu thì Điều 4 Luật Công an Nhân dân đã quy định hầu hết các nguyên tắc này. Nên luật không nên quy định lại mà chỉ lựa chọn những nội dung mang tính nguyên tắc đặc thù của lực lượng Cảnh sát cơ động để đưa vào.

T/h: Phan Đông-Xuân Cảnh